INVOLIO

Investment Insights

Thứ 611242017

Last updateThứ 2, 12 01 2015 11pm

Back Bạn đang ở: Home Ngành Tin Ngành Công Nghệ EVN cứu lỗ cho EVNTelecom bằng cách làm… kỳ lạ

EVN cứu lỗ cho EVNTelecom bằng cách làm… kỳ lạ

alt

Kinh doanh đa ngành là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Thực hiện chủ trương này, tận dụng những lợi thế của ngành, thời gian qua Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã đầu tư kinh doanh viễn thông công cộng.

Sau 10 năm hoạt động, EVNTelecom không những không phát triển mà còn bị thua lỗ nặng nề. Tuy nhiên, thay vì phải tìm ra những giải pháp cải tổ yếu kém trong điều hành, quản lý và kinh doanh để cứu EVNTelecom, EVN lại vướng vào những sai phạm khác.

Là một doanh nghiệp trực thuộc EVN, EVNTelecom ra đời (năm 1995) với mục đích dựa trên cơ sở hạ tầng vững mạnh, công nghệ tiên tiến, kênh phân phối rộng khắp để cung cấp những dịch vụ tiện ích, chất lượng ổn định, giá cả cạnh tranh và đặc biệt đem đến cho khách hàng nhiều lựa chọn mới. EVN hy vọng việc đầu tư ra ngoài ngành, trong đó có viễn thông là một việc làm sẽ hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh chính là sản xuất điện đang bị mất cân đối về tài chính. Tuy nhiên, thực tế kinh doanh viễn thông những năm qua đã đem đến cho EVN từ hy vọng đến thất vọng lớn khi mà gánh nặng tài chính do sự làm ăn thua lỗ lớn gây ra...

Bỏ rơi lợi thế…

So với những đơn vị kinh doanh viễn thông, EVNTelecom là doanh nghiệp có nhiều lợi thế trong kinh doanh. Trước hết về mạng lưới kinh doanh, ngoài 10 trung tâm trực thuộc EVNTelecom còn có các đơn vị điện lực, công ty điện lực trải rộng khắp trên 63 tỉnh, thành tham gia kinh doanh dịch vụ viễn thông.

Đặc biệt về năng lực mạng lưới (cơ sở vật chất), EVNTelecom đã tham gia vào các mạng cáp quang lớn nhất thế giới và khu vực, kết nối Việt Nam với các nước trên thế giới qua các cổng truyền dẫn quốc tế: Cổng quốc tế Móng Cái, Lạng Sơn, Mộc Bài, Khánh Bình (An Giang), Lao Bảo.

Với hệ thống cáp trên biển, EVNTelecom có thể đáp ứng nhu cầu cho sự bùng nổ băng thông rộng chất lượng cao, các dịch vụ viễn thông khác trong những năm tới và bảo đảm dự phòng an toàn cho mạng lưới viễn thông quốc gia.

Về mạng viễn thông trong nước, với mạng truyền dẫn đường trục quốc gia gồm trên 40.000km cáp quang, mạng truyền dẫn của EVNTelecom đã có mặt tại 63 tỉnh, thành phố trên cả nước; sử dụng hệ thống đường trục Bắc - Nam chạy song song đồng thời trên các tuyến dây tải điện 500kV, 220kV với công nghệ hiện đại và dung lượng thiết kế lên đến 400Gbps…

Hệ thống mạng truyền dẫn nội hạt của EVNTelecom có độ an toàn, tin cậy cao do được thiết lập bảo đảm chặt chẽ nguyên tắc mạch vòng bảo vệ. So với các giải pháp khác, mạng truyền dẫn của EVNTelecom đã trở thành mạng truyền dẫn có độ an toàn cao.

Bên cạnh những lợi thế về hạ tầng mạng, dịch vụ mạng CDMA 20001x của EVNTelecom thể hiện những ưu thế rõ rệt khi so sánh với các dịch vụ hữu tuyến và vô tuyến truyền thống khi triển khai cho vùng sâu, vùng xa, cung cấp đa dịch vụ trên nền một hạ tầng mạng.

Câu hỏi lớn đang được đặt ra cho EVN là tại sao có nhiều lợi thế về cơ sở vật chất cũng như con người như vậy mà viễn thông điện lực đang phải gánh những khoản lỗ rất lớn và con số lỗ này sẽ ngày càng lớn hơn khi những cơ hội kinh doanh cũng như hợp tác kinh doanh của EVNTelecom ngày càng đi vào ngõ cụt.

…tự làm thua lỗ nặng nề

Doanh thu kinh doanh các dịch vụ viễn thông của EVNTelecom giảm nghiêm trọng, cụ thể: tháng 1-2010: 180 tỷ đồng, giảm xuống 147 tỷ đồng vào tháng 1-2011 và 134 tỷ đồng vào tháng 2-2011. Trong khi đó, tổng chi phí năm 2010 của EVNTelecom là 2.957 tỷ đồng, trong đó lãi vay là 257 tỷ đồng, khấu hao cơ bản là 471 tỷ đồng, cước kết nối 303 tỷ đồng. Chi phí ngoài lãi vay và khấu hao hằng tháng của EVNTelecom bình quân khoảng 160 tỷ đồng, bao gồm các chi phí hoa hồng, thuê tài sản (cột anten, nhà trạm, cáp quang) và vận hành cho các tổng công ty (TCT) điện lực, chi phí vận hành và quản lý mạng lưới của EVNTelecom. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến cân đối doanh thu - chi phí của EVN Telecom (hằng tháng EVNTelecom còn thiếu khoảng 16 tỷ đồng cho các hoạt động thường xuyên của công ty, khoảng 10 tỷ trả lại các TCT điện lực sau khi bù trừ và thiếu khoảng 150 tỷ đồng để trả nợ gốc và lãi cho các ngân hàng).

Doanh thu CDMA chiếm tỷ trọng chi phối trong tổng doanh thu viễn thông của EVN (trung bình là 63% tổng doanh thu dịch vụ viễn thông năm 2010) đang giảm mạnh từng tháng. Cụ thể: doanh thu dịch vụ CDMA trả sau giảm từ 88 tỷ đồng vào tháng 1-2010 xuống 67 tỷ đồng vào tháng 1-2011 và 56 tỷ đồng vào tháng 2-2011.

Thực tế mạng CDMA 450 của EVNTelecom đang có lợi thế cạnh tranh cơ bản là các dịch vụ điện thoại cố định không dây (E-COM), tuy nhiên, EVN không đẩy mạnh được doanh thu do tốc độ phát triển thuê bao thực rất chậm, thuê bao rời mạng liên tục tăng, cứ phát triển 1 thuê bao thì có trung bình 7,1 thuê bao rời mạng.

Mặc dù, EVN có thế mạnh về cơ sở hạ tầng hệ thống cáp quang, nhưng thế mạnh này không phát huy được do hạ tầng bị phân tán, không được quản lý, vận hành và khai thác tập trung, khi sự cố xảy ra thì mất rất nhiều thời gian xử lý do có nhiều đầu mối quản lý (một phần do các TCT điện lực và TCT truyền tải quản lý, khai thác, một phần do EVNTelecom quản lý, khai thác). Trong giai đoạn từ năm 2005 đến nay, dịch vụ cho thuê kênh luồng trong nước và quốc tế chỉ đạt khoảng 30 tỷ đồng/tháng, không tương xứng với năng lực của hệ thống.

Hệ thống cáp quang biển IA đưa vào khai thác dịch vụ từ 2009, tuy nhiên, việc kinh doanh thuê kênh quốc tế trên IA năm 2010 chưa đạt được kế hoạch đặt ra, tổng doanh thu kinh doanh dịch vụ IA năm 2010 là 47 tỷ đồng (gồm 30 tỷ doanh thu cung cấp dịch vụ cho khách hàng và 17 tỷ doanh thu cung cấp dịch vụ nội bộ).

Việc kinh doanh các dịch vụ internet không phát triển dẫn đến hiệu quả tổng thể trong khai thác đường IA là rất thấp. Doanh thu kinh doanh dịch vụ trực tiếp trên IA và dịch vụ internet không đủ để cân đối chi phí đầu tư ban đầu cũng như chi phí vận hành của đường IA.

Tổng doanh thu các dịch vụ internet (leased lines, internet trên truyền hình cáp, ADSL, FTTx) trung bình 11 tỷ đồng/tháng trong năm 2010. Dịch vụ internet trên truyền hình đang suy giảm đáng kể, dịch vụ FTTx tăng doanh thu cuối năm 2010 nhưng vẫn không đạt kế hoạch năm 2010.

Dịch vụ 3G mới đưa vào tháng 10-2010, doanh thu đạt khoảng 2 tỷ đồng vào tháng 12-2010 và 2,2 tỷ vào tháng 2-2011 với số khách hàng phát sinh cước khoảng 45 thuê bao. Sau 5 tháng phát triển dịch vụ, số lượng khách hàng gần như không tăng, các loại dịch vụ gia tăng trên mạng 3G chưa hấp dẫn được khách hàng (do chưa tạo ra sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng).

Năm 2010, doanh thu của EVNTelecom chỉ đạt hơn 2 nghìn tỷ đồng và lỗ khoảng hơn 1 nghìn tỷ đồng. Hệ số nợ của EVNTelecom lên đến 5,1 lần (theo đó, nợ phải trả là 7.760 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu là 1.586 tỷ đồng). Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của EVNTelecom chỉ còn 31%.

Với doanh thu của các TCT điện lực hiện nay, sau khi trừ các khoản EVNTelecom trả lại (thuê tài sản, hoa hồng...) không còn tiền để chi phí cho các hoạt động của công ty, đồng thời phải trả lại các TCT điện trung bình từ 7 đến 10 tỷ đồng/tháng. Như vậy, với kết quả kinh doanh dịch vụ CDMA chủ yếu giao cho các TCT điện lực thì EVNTelecom sẽ lỗ toàn bộ chi phí vận hành và chi phí đầu tư mạng và còn phải bù lỗ thêm khoảng 10 tỷ đồng/tháng để bảo đảm mạng CDMA phục vụ kinh doanh của các TCT điện lực.

Các khoản vay vốn và trả lãi cho các dự án đã đầu tư hoàn toàn nằm ngoài khả năng thu xếp của EVNTelecom, hiện nay không có nguồn để trả các khoản vay và lãi vay này.

Nhiều khoản nợ chưa thanh toán được cho các dự án CDMA cho các nhà thầu… với số tiền xấp xỉ 25 triệu USD, mặc dù các dự án này đã xong từ năm 2008 và đã đưa vào sử dụng. Các dự án tự đầu tư từ năm 2007 đến nay còn khoảng 30 tỷ chưa thanh toán được cho đối tác. Việc này cũng làm mất đi nhiều sự hỗ trợ tài chính của các nhà thầu cho các dự án của EVNTelecom.

Toàn bộ các chi phí thường xuyên của riêng EVNTelecom (bao gồm cả lương CBCNV, thuê nhà văn phòng, điện nước, bảo hiểm…) là 51 tỷ đồng/tháng và được cân đối dựa vào nguồn thu từ kinh doanh kênh quốc tế và trong nước, tương đương khoảng 35 tỷ đồng/tháng để cân đối. Tuy nhiên, trong 35 tỷ đồng này còn phải chí phí trả cho việc thuê kênh và lưu lượng (China Unicom, China Telecom...) nên không đủ để chi phí, thiếu ròng khoảng 16 tỷ đồng/tháng.

Như vậy, hằng tháng EVNTelecom thiếu hụt và không có khả năng thanh toán tổng cộng khoảng 176 tỷ đồng, gồm: 150 tỷ đồng tiền trả vốn và lãi vay ngân hàng (chưa tính cho dự án 3G); 10 tỷ đồng chi phí hoàn trả lại cho các TCT điện lực (sau đối soát các khoản thuê lại các PCs); 16 tỷ đồng chi phí hoạt động thường xuyên.

Khi EVNTelecom khó có khả năng trụ được với những khoản nợ và lỗ ngày càng lớn thì cũng là thời điểm Chính phủ yêu cầu triển khai thị trường điện. Cơ hội để EVNTelecom có lối thoát là thực hiện phương án tách một sóng mang thuộc mạng CDMA 450 để phục vụ thị trường điện và hệ thống điện đo đếm từ xa. Tuy nhiên, thực hiện phương án này đồng nghĩa với việc chuyển nợ và lỗ sang giá điện và diễn nôm là, mọi khoản lỗ từ SXKD yếu kém của hoạt động viễn thông đùn hết cho khách hàng sử dụng điện… gánh chịu.

Thủ thuật chuyển nợ

Theo phương án này, việc tách một sóng mang (carrier) trong 3 sóng mang của mạng CDMA 450 để phục vụ thị trường điện sẽ thông qua hình thức chuyển giao tài sản liên quan đến sóng mang tách ra trong số 3 sóng mang của CDMA 450 là hình thức "mua bán tài sản giữa EVN và EVNTelecom".

Để thực hiện tách một carrier, EVNTelecom sẽ phải tách các BTS hiện có của mạng CDMA 450 để cung cấp một carrier tách ra, bao gồm các thiết bị viễn thông tại BTS. Phần thiết bị tách ra sẽ được chuyển giao cho EVN thông qua hợp đồng mua bán tài sản giữa EVN và EVNTelecom. Các tài sản là các thiết bị truyền dẫn tại BTS đang sử dụng chung cho cả 3 sóng carrier của mạng CDMA 450, các thiết bị viễn thông tại BTS liên quan đến phần sóng mang còn lại sẽ tiếp tục do EVNTelecom quản lý và khai thác sử dụng. Tính đến ngày 30-6-2011, số lượng BTS phục vụ một carrier tách ra là 2.098 BTS, như vậy, giá tách ra và chuyển giao cho EVN là hơn 3.117 tỷ đồng và giá trị phần sóng mang thuộc carrier thứ 2 và 3 để lại EVNTelecom chỉ còn khoảng 762,4 tỷ đồng. Với carrier thứ 2 và 3 được giữ lại này chỉ phủ sóng một số tỉnh Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… thì EVNTelecom sẽ gần như không còn gì để kinh doanh (!?).

Việc chuyển giao sang phục vụ thị trường điện với giá trị lớn gấp hơn 4 lần giá trị giữ lại để EVNTelecom kinh doanh buộc phải đặt câu hỏi: nếu thị trường viễn thông chưa có nhu cầu thì tại sao EVNTelecom lại đầu tư quá lớn như vậy?

Trở lại vấn đề tách một carrier của mạng CDMA 450 của EVNTelecom sang phục vụ thị trường điện và hệ thống điện đo đếm từ xa, đồng nghĩa với việc chuyển giao giá trị mà EVNTelecom đang nợ sang cho thị trường điện phải gánh, giá điện phải gánh và tóm lại là bổ vào "hầu bao" của khách hàng sử dụng điện.

Để phục vụ thị trường điện, từ nay đến năm 2015, đo đếm tại các nhà máy điện sẽ cần đọc khoảng 70-100 công tơ; đến giai đoạn bán buôn cạnh tranh (2015-2020) mới có nhu cầu đo đếm đến cấp điện áp 110kV, nhưng cũng chỉ đo đếm tại ranh giới giữa các Tổng Công ty (TCT) Điện lực và như vậy thì sau năm 2015 mới cần đến. Trong điều kiện nền kinh tế và đời sống người dân hiện nay, tại sao EVN không chọn giải pháp thuê kênh của EVNTelecom hay bất cứ đơn vị viễn thông nào có giá thành hợp lý để không gây sức ép tăng giá điện?

Chưa hết, muốn triển khai hệ thống đo đếm từ xa sử dụng đo đếm bằng CDMA, phải thay thế toàn bộ công tơ cơ hiện nay bằng công tơ điện tử. Hiện EVN có khoảng 18 triệu khách hàng (EVN bán trực tiếp), nếu phải thay thế công tơ điện tử thì sẽ phải cần đầu tư nhiều tỷ USD, đây là yếu tố thiếu tính khả thi trong điều kiện hiện nay.

Hiện nay, giá công tơ 3 pha là 250 USD/1 công tơ. Theo lộ trình, trong năm 2011 và hết năm 2012 sẽ lắp đặt được khoảng một triệu công tơ điện, chưa kể chi phí thi công, riêng chi phí cho mua công tơ đã lên tới 250 triệu USD. Nếu lấy con số công tơ khách hàng do ngành điện đang quản lý bán điện trực tiếp là 18 triệu công tơ, sẽ phải chi phí vào tiền mua công tơ 4,54 tỷ USD. Đây là con số không nhỏ nếu bị đẩy vào giá điện. Và đó là giải pháp lãng phí không cần thiết và đầy nguy hiểm.

Điều dễ nhận thấy những khoản nợ lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng của EVN đang được "treo" lại chưa được tính vào chi phí kinh doanh sẽ là sức ép tăng giá điện.

Đó là khoản lỗ 11.000 tỷ đồng do mua điện giá cao từ một số nhà máy điện độc lập. Sau khi cắt hết lợi nhuận của các công ty truyền tải, phân phối đã rút xuống được lỗ cơ bản còn 8.000 tỷ đồng. Sau đó là khoản chênh lệch tỷ giá, khoảng 17.000 tỷ đồng.

Với khoản lỗ 8.000 tỷ đồng, phương án giá điện năm 2011 (đã áp dụng từ ngày 1-3-2011) nhưng chưa được tính vào giá điện. Sau khi có kết quả kiểm toán cuối tháng 5, EVN sẽ báo cáo để đưa vào kế hoạch phân bổ trong kế hoạch tăng giá điện tới. Còn khoản 17.000 tỷ đồng chênh lệch tỷ giá, EVN đã báo cáo Chính phủ phân bổ từng bước vào giá điện.

Các chuyên gia kinh tế đã nhiều lần lên tiếng về việc cần công khai, minh bạch hóa quản lý các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, trong đó có việc công bố các kết quả kiểm toán, đặc biệt là kiểm toán chi phí kinh doanh của các đơn vị này.

Chuyển giá điện theo cơ chế thị trường được đánh giá là hợp lý, tuy nhiên, song song với nó cần phải có những cơ chế giám sát và kiểm soát hiệu quả hoạt động đầu tư, kinh doanh của ngành điện.

Thiếu vốn nhưng lại đầu tư vào ngân hàng, bất động sản

EVN là một ngành kinh tế đặc biệt quan trọng. Vì vậy, việc đầu tư ra ngoài ngành của EVN phải được cân nhắc khi vốn cho các công trình điện đang còn thiếu nghiêm trọng, đặc biệt là khi Quy hoạch điện VII vừa được Chính phủ phê duyệt, đã xác định nhu cầu huy động vốn lên tới 5 tỷ USD/năm cho giai đoạn 2010 - 2020 và khoảng 7,5 tỷ USD/năm trong giai đoạn 2021-2030. Việc hình thành cơ chế thích hợp để huy động vốn đầu tư vào ngành điện là bài toán mới đặt ra đối với nền kinh tế trong điều kiện kinh tế thế giới cũng đang gặp khó khăn.

Trước đây, trong giai đoạn thực hiện Quy hoạch điện VI cũng vì thiếu vốn, nên việc phát triển nguồn điện chỉ đạt 80% kế hoạch. Bên cạnh các khó khăn liên quan tới giải phóng mặt bằng, năng lực quản lý của nhà thầu cơ chế, tình trạng nợ tiền thanh toán nhà thầu diễn ra trên hầu hết công trình điện… đã khiến nhiều dự án điện chậm tiến độ so với kế hoạch.

Những năm gần đây, EVN mở rộng đầu tư sang các lĩnh vực tài chính, bất động sản, viễn thông… Ví như, năm 2008, Công ty Tài chính cổ phần Điện lực (EVNFC) được chính thức thành lập và hoạt động với số vốn điều lệ là 2.500 tỷ đồng, trong đó EVN sở hữu 40%. EVN cũng là cổ đông chiến lược của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình (ABBank), một trong 10 ngân hàng TMCP có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam hiện nay với vốn điều lệ đạt trên 3.830 tỷ đồng (tính đến tháng 12-2010). Ngoài ra, EVN còn liên kết với Công ty cổ phần Chứng khoán Hà Thành (HASC); Công ty cổ phần Bất động sản Điện lực Sài Gòn Vina, Điện lực miền Trung, EVNLand Nha Trang...

Về lĩnh vực viễn thông, năm 2009, EVN và Hanoi Telecom đã ký thỏa thuận hợp tác chiến lược trong vòng 10 năm. Theo thỏa thuận trong 3 năm đầu tiên, liên danh EVN Telecom (đơn vị trực thuộc EVN) và Hanoi Telecom sẽ đầu tư khoảng 6.000 tỷ đồng cho triển khai dịch vụ 3G, bảo đảm phủ sóng tới 50% dân cư khi cung cấp dịch vụ. Ngày 9-6-2010, đơn vị này đã chính thức cung cấp dịch vụ 3G ra công chúng.

Hiện chưa có một tổng kết đánh giá hay công bố chính thức nào về hiệu quả đầu tư ra ngoài ngành, cũng như những khoản lỗ mà EVN đã gây ra khi đầu tư ra ngoài ngành, nhưng các chuyên gia kinh tế về cơ bản cho rằng lợi đâu chẳng thấy mà mới chỉ thấy thua lỗ. Vì thế, nay việc EVN chuyển nợ, lỗ của viễn thông cho người dùng điện gánh chịu lại là một nguy hiểm mới trong quản lý.

Theo HNM